Bách Yêu Phổ

Chương 39: Chương 10-5



Giữa hè ở bãi tha ma, ma trơi còn đẹp hơn cả đom đóm.

Đó là lời mà Kinh Trập nói. Hắn nằm ườn ở chòi tranh, sờ đầu nàng, hỏi: “Đúng không?”

Đám ma trơi màu xanh nhảy múa ở cách đó không xa, còn nàng co người ngồi bên cạnh hắn, run rẩy. Nàng không có tâm trạng thưởng thức “cảnh đẹp”, là một con yêu quái suýt bị hồn bay phách tán, nàng vẫn chưa thôi sợ hãi.

Một canh giờ trước, nàng bị trói gô trên một cái cọc gỗ viết đầy bùa chú, một đám nam nữ cười đùa trước mặt nàng, có người cầm kiếm gỗ, có người giơ kính chiếu yêu, có người chĩa mũi dao sắc.

“Một tấm lưới mà đã bắt được chừng này, tụi mình còn chưa bắt đầu niệm chú đâu đấy, Ảo Cơ quá làm mất mặt tụi yêu quái.”

“Chả có chút cảm giác thành tựu gì cả. Coi thử nào, đếm xem, chín mươi tám con hả?”

“Ừ. Đám lão Đồ, lão Khương thua chắc rồi, tiểu môn tiểu phái của họ làm sao so với mình được.”

“Nhưng họ không yếu đâu, mấy hôm trước còn đốt mèo yêu cơ. Eo, cái mùi đó tởm lắm.”

“Hình như là phải rọc da con mèo ra rồi mới đốt thì phải. Mèo yêu sống dai lắm, bị mất da vẫn sống được. Hôm đó nó kêu thảm thiết lắm.”

“Đừng nói dóc nữa, con này xử lý thế nào đây?”

“Trước hết cứ móc mắt nó ra đã, Ảo Cơ là thứ chẳng tốt lành gì, chuyên nhìn thời gian chết của người khác, tởm lợm.”

“Ừ, vậy móc mắt nó ra trước.”

Bùa chú giống như ngọn lửa quấn lấy nàng khiến nàng không thể cử động, ngay cả nói cũng không được.

Sao lại thế này? Từ lúc bắt đầu có ý thức, nàng luôn an phận sống ở bãi tha ma hoang vắng, trừ kiếm ăn ra, nàng không có bất cứ hoạt động thừa thãi nào, hoàn toàn không trêu chọc ai cả. Lần này nàng chỉ lén đi vào chợ xem hội hoa đăng thôi, tại sao lại bắt nàng chứ, còn muốn móc mắt của nàng nữa?

Lưỡi dao sắc nhọn đung đưa trong tay một cô gái trẻ, nàng ta rất xấu xí, ánh mắt nhìn nàng trừ chê ghét và khinh thường thì còn có cả nỗi đố kỵ.

Người nàng run rẩy, mũi dao càng lúc càng gần, tại sao loài người lại e sợ yêu quái, nàng không hiểu, nào phải tất cả yêu quái đều hại người, giống như nàng vậy, ngay cả bay lượn hay độn thổ nàng cũng không biết, thậm chí kiếm ăn cũng phải lén lén lút lút. Nàng biết sớm muộn mình cũng sẽ chết, nhưng chưa từng nghĩ sẽ chết oan ức như thế này.

“Đừng nghịch nữa. Đây là con Ảo Cơ của ta.”

Có người lên tiếng, con dao trong tay cô nương kia dừng ở chỗ cách nàng rất gần.

Kinh Trập giơ bình rượu lên, biếng nhác đi ra, tóc tai bù xù, xiêm y rách rưới, miếng kính hộ tâm treo trước ngực lung la lung lay tựa như say rượu.

Mặt ai cũng biến sắc, nhìn nhau.

“Đây là do bọn ta bắt được, phải do bọn ta xử lý.” Thanh niên cầm đầu bạo gan đứng ra, “Kinh Trập, chuyện này không liên quan tới huynh.”

Hắn uống ngụm rượu, nói: “Mấy hôm nay vì ganh đua mà các ngươi tranh nhau giết yêu quái, loại chuyện nhàm chán như thế, ta không quan tâm. Nhưng các ngươi muốn giết nàng ấy thì ta không đồng ý.”

Thanh niên nọ cười lạnh: “Kinh Trập, huynh cũng là thuật sư, giết yêu là chức trách của thuật sư, hôm nay huynh làm khó bọn ta, chẳng lẽ là vì đã động lòng với con yêu quái này?”

Hắn lại uống thêm ngụm rượu, nhìn về phía nàng, vừa đi vừa nói: “Đằng nào các ngươi cũng đánh không lại ta, ta mang nàng ấy đi đây, ta còn phải nhanh chóng về nhà nghỉ ngơi nữa.”

Thanh niên nọ không nén được cơn giận, rút kiếm kề lên cổ hắn. Hắn dừng lại, ghé mắt nhìn thanh kiếm.

“Bọn ta không phải là đối thủ của ngươi nhưng chẳng lẽ toàn bộ thuật sư thành TFương Dương đều không phải là đối thủ của ngươi?” Thanh niên nọ tức giận, “Nếu hôm nay ngươi dám cứu con yêu quái này, ta bảo đảm ngày mai ngươi sẽ là kẻ thù của toàn bộ giới thuật sư ở thành Tương Dương!”

“Đáng sợ quá.” Hắn bật cười, “Vậy ta phải đưa ra lý do gì thì các ngươi mới không giết nàng ấy?”

“Ha ha, chỉ khi đó là nương tử của ngươi thì bọn ta mới tha cho ả.” Cô nương cầm dao cười khẩy.

Tất cả đều cười xấu xa.

“Ồ.” Hắn gật đầu, dùng ngón tay đẩy thanh kiếm của thanh niên nọ kia ra, thản nhiên đi tới trước mặt nàng, ngón tay vẽ một vòng, sợi dây đứt lìa, nàng đổ sụp xuống, được hắn ôm lấy.

Xoay người, hắn bỗng kéo nàng quỳ xuống, nhìn vầng trăng khuyết treo trên bầu trời đêm, nói: “Trời đất chứng giám, Kinh Trập ta và Ảo Cơ kết thành vợ chồng, sướng khổ cùng chia, sống chết có nhau.”

Sau đó, hắn kéo nàng đang ngẩn ngơ kính cẩn dập đầu lạy ba lạy.

“Được rồi, sau này nàng chính là mẹ của con ta.” Hắn kéo nàng tới gần, phủi chiếc lá rụng trên đầu nàng xuống, vuốt lại mái tóc rối của nàng, “Các ngươi nếu làm hại nàng ấy, ta sẽ không vui thật đấy.”

Ai nấy đều ngơ ngác.

“Điên rồi!”

“Chúng ta về nói với sư phụ mau!”

“Phải cho kẻ này nếm mùi đau khổ mới được!”

Họ vừa mắng vừa ù té chạy.

Kinh Trập rất điên. Người này trời sinh đã có bản lĩnh hàng yêu trừ ma, người khác phải vẽ bùa làm kết giới, hao tốn không biết bao nhiêu sức lực thì mới đối phó được với yêu ma, còn hắn chỉ cần nắm đấm là xong, không có bất cứ yêu pháp nào có tác dụng với hắn, sự hiện hữu của hắn là nỗi kiêng kỵ lớn nhất của yêu vật, chúng sợ quả đấm của hắn, thậm chí sợ cả hơi thở của hắn, có lẽ hắn là thứ được gọi là khắc tinh của chúng. Trên đời chỉ có loại yêu quái mà hắn không muốn đối phó chứ không có loại yêu quái nào mà hắn đối phó không được. Hắn lợi hại thế đấy, lợi hại đến mức không thật.

“Ta… Ta không hề trêu chọc họ.” Nàng cúi đầu, ngập ngừng nói, “Cảm ơn huynh.”

Trước hôm nay, quan hệ của họ hẳn là hàng xóm?

Nàng ở phía đông nghĩa địa, hắn ở phía tây, nhớ không lầm thì họ đã làm hàng xóm mười năm rồi.

Lúc đầu nàng cũng sợ, trên người hắn toát ra khí tức như đao, lạnh buốt và sắc bén, nàng không dám nhích tới gần hắn. Vốn dĩ nàng còn có một hàng xóm nữa, đó là con chuột tinh một tuổi, nhưng nó đã chuyển nhà, trước khi đi, nó nói với nàng rằng hắn là thuật sư lợi hại nhất thành Tương Dương, yêu quái mà rơi vào tay hắn, trừ khi hắn mở lòng từ bi, còn không thì chẳng thể nào sống nổi. Hắn không có môn phái, lẻ loi một mình, tên là Kinh Trập.

Nàng có nên chuyển nhà không? Nhưng phải đi đâu? Ở đây đã lâu, nàng quen thuộc với nơi này nhất, không nỡ bỏ đi.

Nàng nấp ở sau ngôi mộ xa hắn, quan sát hắn mấy ngày. Hắn luôn đi sớm về trễ, khi về sẽ dựng một cái chòi tranh trên đống cỏ khô, sau đó bày mấy vò rượu ra. Người giỏi thế thì sao lại ở đây, hằng ngày nàng đều thắc mắc như vậy.

Hắn rất thích uống rượu, uống rượu mà cứ như uống nước lã, uống đủ rồi thì nằm vật ra ngủ, chẳng bao lâu là ngáy vang trời, tỉnh dậy thì lau mặt, dùng miếng vải rách lau miếng gì đó giống tấm gương được đeo trước ngực, miệng lầm bầm hệt như đang nói chuyện.

Thoạt nhìn tuy hắn hơi quái gở nhưng không hung ác như lời đồn. Nàng dần an tâm, có lẽ là do hắn không phát hiện ra mình chăng? Chắc là không cần chuyển nhà đâu, chỉ cần mình sống đàng hoàng, không đắc tội với hắn, hắn sẽ không làm gì mình.

***

Không biết hôm nay là ngày mấy, chỉ biết là trăng sáng động lòng người, trong không khí thoang thoảng mùi hoa quế.

Hắn vẫn ngồi uống rượu trong chòi tranh, nàng vẫn nấp trong bóng tối quan sát, càng nhìn càng chán, định ngồi xuống, đây là lần đầu tiên nàng thấy trăng to và sáng thế này.

Đột nhiên, có người che khuất ánh trăng trên đầu nàng.

“Ối!” Nàng giật mình chạy đi, vì không để ý dưới chân nên bị ngã lăn, người dính đầy bùn đất.

Nàng hoảng hốt ngồi dậy, vừa phun bùn ra khỏi miệng vừa cầu xin: “Xin ngài đừng giết ta, ta chỉ là Ảo Cơ thôi, ta ở đây còn lâu hơn cả ngài, nếu ngài không thích ta, ta sẽ đi ngay. Ta không biết bay cũng không biết đánh nhau, ta còn sợ đau nữa, ta…”

Một bàn tay to lớn trùm lên đỉnh đầu nàng, vuốt mái tóc rối bời của nàng, “Ta chỉ muốn hỏi cô biết uống rượu hay không thôi.”

Nàng co người lại, gì cơ? Hắn nói gì cơ?

Nàng căng thẳng ngẩng đầu, dưới ánh trắng, người thanh niên trẻ tuổi và quái gở ấy đang nhìn nàng, từ ánh mắt cho đến vẻ mặt đều không có ý muốn giết nàng.

“Ta… ta chưa uống bao giờ.” Nàng đáp nhỏ.

“Nào, qua uống với ta.” Hắn nắm tay nàng, dắt nàng tới chòi tranh của mình.

Cay quá! Mùi vị của rượu là vậy ư?

Nàng ho sặc sụa.

Hắn buồn cười nhìn nàng: “Ngon không?”

“Không ngon.” Nàng lắc đầu, quạt mạnh lưỡi mình.

Hắn cười to, nhìn dáng vẻ bí bách của nàng, nói: “Cô là người duy nhất đồng ý uống rượu với ta đấy.”

“Bạn của ngài cũng không biết uống rượu ư?” Nàng hỏi.

“Ta chỉ có một người bạn.” Hắn cười, sau đó nhặt cái gương trước ngực lên, lắc lắc, “Nhưng nó không có miệng.”

“Ngài nói dối.” Nàng chớp đôi mắt đen láy, “Loài người có ai lại không có bạn chứ.”

Hắn vẫn cười nhưng không trả lời, uống rượu xong thì nằm vật xuống ngủ, hệt như hoàn toàn quên mất có con yêu quái đang ngồi bên cạnh mình.

Nàng thở phào nhẹ nhõm, xem ra không cần chuyển nhà, người này không đáng sợ lắm.

Sau đó, cuộc sống bình an vô sự trôi qua. Hằng ngày hắn về, trừ uống rượu và ngủ ra thì có đôi khi sẽ kéo nàng uống vài chén, đôi khi ngồi ngắm bầu trời đêm một mình. Chỉ có một chuyện tương đối náo nhiệt là có lần nghĩa địa xuất hiện một con hồ ly giảo hoạt, chẳng những giảo hoạt mà còn rất hung hãn, vừa ý cái động dưới đất của nàng, đuổi nàng ra ngoài, còn nó thì thoải mái nằm trong đó. Nàng cãi không lại nó, đánh cũng không thắng nó, không còn cách nào khác, bèn ngủ ngoài động cả đêm. Lúc gần sáng, trời đổ mưa to, nàng muốn vào căn chòi tranh của hắn để trú mưa vì tối đó hắn không về, nhưng nàng đành từ bỏ ý định vì dẫu sao đó cũng là địa bàn của hắn, cuối cùng nàng đội mưa đi tìm một tảng đá lớn rồi quay lại cửa động, thầm nghĩ đợi con hồ ly ra ngoài, nàng sẽ đập vỡ đầu nó!

Hừng đông, mưa tạnh, thực tế trái ngược hoàn toàn với tính toán của nàng, con hồ ly chiếm nhà nàng chẳng những không bị nàng đánh vỡ đầu mà nàng còn bị nó đánh cho một trận, không chỉ bị đánh mà còn bị con hồ ly nhạo báng, nó nói nàng là yêu quái vô dụng nhất, là đồ bỏ đi chẳng làm ra trò trống gì. Đánh xong, hồ ly kiêu căng đi kiếm ăn, nàng nấp sau ngôi mộ, tủi thân xoa gương mặt bị đánh sưng đỏ, càng nghĩ càng đau lòng, cái bình sứ bị đập vỡ là nơi chứa thức ăn mà nàng phải tìm kiếm rất vất vả.

Về truyền thuyết Ảo Cơ, phần lớn đồn rằng họ ăn xác người chết, và còn có thể nhìn thấy tuổi thọ của con người. Nhưng thực thế nàng không ăn xác người, thức ăn của Ảo Cơ là hơi thở cuối cùng của con người trước khi chết. Chỉ cần nàng muốn, nàng có thể nhìn ra loài người còn sống được bao lâu nữa, thường ngày sẽ lén lút đi tới nơi đông người, không phải để chơi mà là để tìm người sắp chết, sau đó ghi nhớ nơi ở của người ta, khi nào sắp đến lúc họ chết thì chạy đến đó, ẩn thân, cầm bình sứ thu lại hơi thở cuối cùng của họ là thành công, một hơi là đủ giúp nàng ăn rất lâu.

Nàng cũng từng gặp rắc rối vì thuật ẩn thân của nàng quá kém, còn chưa đợi được hơi thở cuối cùng thì nàng đã hiện hình làm người gác bên giường hoảng hồn, sau đó cầm dao chém nàng làm nàng chạy trối chết, rất lâu không dám đi vào thành nữa.

Đây chính là cuộc sống của nàng, bao năm qua không thay đổi.

Trong bình sứ còn dư lại hơi thở nhưng bị hồ ly đập vỡ rồi, ít nhất phải đợi một tháng nữa mới được ăn, nàng chán nản ngồi vọc đất.

Tối đó, hắn mang rượu trở về, cau mày nhìn dáng vẻ chật vật của nàng.

Hồ ly bị hắn lôi ra khỏi động, nó không có bất kỳ cơ hội phản kháng nào, hắn chỉ nhíu mày, ngọn lửa đã lan từ cổ tay đang tóm lấy cổ nó rồi cháy phựt, nhanh chóng thiêu nó thành tro.

Nàng che miệng, sợ đến mức không dám phát ra tiếng.

Bây giờ nàng đã tin lời của chuột tinh, hắn giết yêu quái dễ dàng như đập chết con ruồi.

Hắn phủi tay, nhìn vết thương trên người nàng, nói: “Ta không có bạn là bởi vì ta quá mạnh, cô không có bạn là vì cô quá yếu.”

Những lời này nàng không bao giờ quên.

***

Hôm nay hắn lại giúp mình.

Dưới căn chòi tranh, nàng nói nhỏ: “Kinh Trập, nếu không gặp ngài, có lẽ ta đã chết từ lâu rồi. Không chết trong tay yêu quái khác thì cũng sẽ chết trong tay của những kẻ như hôm nay.”

“Ta cũng sẽ chết.” Hắn cười.

Nàng sửng sốt.

Hắn quay đầu lại: “Cô xem được tuổi thọ mà, xem cho ta đi.”

“Không được!” Nàng chợt lùi về sau, lắc mạnh đầu, “Ta không xem đâu!”

Làm hàng xóm mười năm, tháng ngày bình yên, nàng dần biết uống rượu, cũng dám đùa giỡn với hắn, nói chuyện trên trời dưới đất, cho dù là đêm đông tuyết rơi cũng không thấy cô đơn. Song nàng đã quên mất hắn là con người, sống lâu lắm cũng chỉ một trăm năm mà thôi.

Không xem, nàng tuyệt đối không xem hắn còn sống được bao lâu đâu.

Thấy nàng kích động, hắn cười lắc đầu, đứng dậy nắm tay nàng: “Hay là theo ta về nhà đi, cô đã là thê tử của ta rồi, dẫu sao cũng phải đưa cô về gặp cha mẹ chứ.”

Thê tử? Không phải hắn chỉ nói chơi thôi ư?

Nhưng nàng thực sự được hắn dẫn về một căn nhà ở trong thành, hắn dâng hương vái lạy với hai bài vị, nói: “Cha, mẹ, con thành thân rồi, dẫn con dâu về ra mắt cha mẹ đây.”

Đến lúc này, nàng mới biết hắn không nói chơi.

“Mười năm trước, cha mẹ ta bị giết bằng thuốc độc.” Hắn dùng ống tay áo lau bụi bặm trên bài vị, “Có kẻ bỏ thuốc độc vào giếng nhà ta, hôm đó ta rời nhà sớm để đi làm. Đố kỵ là loại yêu quái đáng sợ hơn bất kỳ yêu quái nào. Ta muốn lấy mạng của hung thủ, đó là lý do ta trở thành thuật sư. Giết yêu thì không sao, nhưng giết người phải chịu tội, quan phủ điều tra không ra đầu mối, ta định đầu thú nhưng vì trong tù ngột ngạt nên thôi, cũng không muốn ở lại nơi cũ nữa, vì vậy mới làm hàng xóm của cô.”

Nàng mở to mắt, cắn chặt môi.

“Lúc mới ra đời, có vị hòa thượng xem số mệnh của ta, nói ta “Mạng mang hung kiệt, thần quỷ khó gần”, không thể ở bên cạnh cha mẹ, xuất gia càng sớm càng tốt, nếu không chỉ hứng chịu khổ sở. Còn nói ta…” Hắn chợt ngừng lại, quay đầu nhìn nàng cười, “Cha mẹ ta không nỡ để ta đi tu, nhưng kết cục lại ứng theo lời hòa thượng nói.”

Nàng không biết nên nói gì cho phải, chỉ biết im lặng.

“Nguyện vọng lớn nhất của cha mẹ ta là ta cưới vợ sinh con.” Hắn nhìn thẳng vào mắt nàng, “Cô có đồng ý cùng ta kết làm vợ chồng không? Nếu không đồng ý, ta sẽ không ép.”

Nàng hốt hoảng, người run run, chỉ vào mình: “Ta là Ảo Cơ, không phải con người. Người như ngài sao lại cưới ta làm vợ được?!”

Hắn cười: “Vì ta quen thân với cô nhất.”

Nàng suýt sặc nước miếng chết.

Nhưng điều khiến nàng càng hoảng hốt hơn là nàng không muốn từ chối hắn.

Được làm vợ, có chồng, có nơi nương tựa là điều mà nàng không dám nghĩ tới, huống chi nàng cũng chỉ thân thiết với hắn, chỉ có hắn là chưa từng bắt nạt nàng.

Thế là một thuật sư hàng yêu trừ ma cưới một yêu quái làm vợ, chuyện hoang đường tột cùng ấy lại diễn ra rất tự nhiên.

Hắn dẫn nàng tới một căn nhà nhỏ ở gần nghĩa địa, sống với nhau như tất cả các cặp vợ chồng trong thiên hạ, ban ngày hắn đi làm kiếm tiền, có lời thì sẽ mua vải vóc và trâm cài về tặng nàng. Nàng học làm một cô gái loài người bình thường, giặt giũ may vá nấu nướng, cuộc sống bình an trôi qua trong khói bếp lượn lờ.

Năm thứ hai, họ có con gái, hắn đặt tên là Sơn Hải. Nàng trách hắn sao lại đặt tên con trai cho con gái mình, hắn nói sơn thủy tự tại, khổ hải hữu biên(1).

(1) Sơn thủy tự tại, khổ hải hữu biên: Non nước tự tại, bể khổ có chừng.

Nàng không hiểu lắm, nhưng nếu hắn thích thì cứ đặt là Sơn Hải thôi. Nhìn khuôn mặt nhỏ nhắn đỏ lựng của con gái, tất cả lo lắng của nàng hóa thành hư ảo, hóa ra con người và yêu quái có thể có con. Nàng chưa từng an lòng và hạnh phúc đến thế.

Hôm ấy, hắn bế con gái ngắm tuyết rơi bên ngoài cửa sổ, chợt nói: “Cuộc đời này nếu được sống một ngày an nhàn, cho dù có cay đắng đến đâu cũng chẳng phải là cay đắng.”

Nàng tựa vào vai hắn, cười nói: “Nếu chúng ta kết hôn ngay từ khi mới quen nhau thì tốt quá, như vậy có thể được làm vợ chồng mấy chục năm rồi.”

Hắn cúi đầu nhìn nàng, ánh mắt bỗng trở nên phức tạp.

Điều mà nàng chẳng thể ngờ đến là buổi chiều trong cái ngày đầu đông ấy là phút giây cuối cùng của gia đình họ.

Khi quỳ trên mặt tuyết lạnh tựa băng bên ngoài chùa Vân Độ, nàng vẫn suy nghĩ mình đã làm sai ở đâu, vì sao hắn nói bỏ đi là bỏ đi luôn, nói rời khỏi nhà là rời khỏi ngay.

Rốt cuộc nàng vẫn không hiểu hắn, hắn có thể liều lĩnh cưới nàng làm vợ, cũng có thể liều lĩnh bỏ rơi nàng. Hắn không cần nàng nữa ư? Nhưng con gái của họ còn rất nhỏ, sao hắn cũng không cần nó chứ?

Từ bình tĩnh hóa điên rồ, sau đó kiên quyết xông vào chùa nhưng bị kết giới ngăn lại, ngay cả đầu chảy máu, tay bị thương, chùa Vân Độ vẫn kiên quyết ngăn cản nàng.

Bảy ngày bảy đêm, nàng bế con quỳ trước chùa Vân Độ, gọi rành mạch tên hắn.

Sáng sớm ngày thứ tám, một hòa thượng đi ra, trao cho nàng một tờ giấy, trên đó có bút tích của hắn, chỉ bốn câu:

Người – Yêu ngược lối, duyên tận từ đây. Non nước tự tại, bể khổ có chừng.

Nàng nhìn tờ giấy như muốn xuyên rách nó, cuối cùng trong mắt chỉ còn lại bốn chữ “Người – Yêu ngược lối”… Người – Yêu ngược lối… Nguyên nhân hắn rời đi hóa ra vì nàng là yêu quái.

Nàng gắng gượng đứng dậy, lẳng lặng nhìn chùa Vân Độ, đứa bé trong lòng nàng òa khóc, nàng cắn chặt răng, nói: “Con gái của chàng sẽ không phải là yêu quái.”

Dứt lời, nàng xoay người lảo đảo bước đi.

Trên bờ tường chùa Vân Độ, có một bóng đen bay sượt qua.

Bên trong tăng xá, nhang khói lượn lờ, hắn nằm trên giường, sắc mặt tái nhợt.

Phương trượng già ngồi bên cạnh, nhắm mắt vân vê Phật châu.

Hắn nói chậm: “Lão hòa thượng, nếu ta tới chỗ người sớm, liệu những người bên cạnh ta sẽ sống tốt hơn?”

“Mạng người có số, cậu tới hay không thì nên đi vẫn phải đi. Chớ nghĩ nhiều.” Phương trượng nói, “Chẳng qua cậu biết rõ mình chỉ sống được ba mươi năm, làm sao lại còn kết duyên với nữ yêu quái kia… Nghiệt duyên.”

Hắn cười yếu ớt: “Sao ta biết được lão hòa thượng người nói thật hay giả. Nhưng bây giờ ta biết người nói thật rồi. Sau này người đừng đi xem số mạng của người khác nữa nhé, có thấy thì cũng đừng nói ra.”

“Năm đó cha mẹ cậu có ơn tặng cơm cho ta nên ta mới hảo tâm nhắc nhở. Mạng cậu khác thường, cuộc đời sóng gió, nếu vào không môn sớm, ít nhất không bị vướng lòng.” Phương trượng thở dài, “Nghỉ ngơi đi. A di đà Phật.”

Sau khi phương trượng rời đi, hắn nhìn trần nhà, trước mắt toàn là bóng dáng của nàng.

Nơi hốc tường bỗng tiến vào một bóng hình màu đen, xoay tròn trên không trung rồi chui vào miếng kính hộ tâm trước ngực hắn.

“Nàng ấy bế con đi rồi.” Trong gương truyền ra tiếng nói, “Ngài phải làm vậy ư? Thật ra ta có thể…”

“Chiếu Hải, ngươi đi theo ta hai mươi năm rồi nhỉ?” Hắn cắt đứt lời đối phương.

“Hai mươi năm.” Gương nói, “Năm ngài tám tuổi, ngài đã cứu ta từ miệng của một con trai tinh.”

Hắn hít sâu một hơi, nói: “Ngươi nói ngươi có thể tạo ra đường sống cho người khác.”

“Cả đời chỉ tạo một đường sống cho một người.”

“Tốt, vậy thì tốt quá.” Hắn gắng gượng ngồi dậy, cởi chiếc gương mà hắn đã đeo suốt hai mươi năm, nâng trong tay.

Nó chỉ to như quả trứng gà nhỏ, bên ngoài được bọc bởi đá đen sáng chói, mặt kính tròn sáng như ngọc, ánh sáng lóa mắt, nói là gương nhưng nhìn vào lại chẳng phản chiếu gì cả.

Hắn chợt cắn ngón tay, vẽ bùa chú lên mặt kính.

“Ngài làm gì vậy?” Gương hỏi to.

“Sau này ngươi hãy chăm sóc mẹ con họ thay ta.”

Ánh mắt hắn bỗng trở nên kiên quyết, di mạnh ngón tay lên mặt kính như thể muốn đè áp linh hồn của mình lên nó. Một dải ánh sáng trắng lóe lên, gương rơi xuống đất, tia sáng tản đi, trên mặt đất xuất hiện một người mặt đồ đen đang co rúm, gương mặt không có ngũ quan, trong suốt như mặt gương.

Hắn hộc ra búng máu, mặt trắng như giấy, nhìn nam nhân dưới đất, bật cười: “Nếu ta khỏe hơn một chút thì có lẽ ngươi đã đẹp hơn rồi.”

Nam nhân chầm chậm bò dậy, cúi đầu nhìn thân thể mình, không nói gì.

“Tin tức ta chết, giấu càng lâu càng tốt.” Hắn nhích người, ngồi xếp bằng.

“Vì sao phải làm vậy…” Nam nhân không quen lắm về cơ thể mới của mình, nói rất chậm.

“Yếu đuối là điểm yếu trí mạng của nàng.” Hắn nhìn ra cửa sổ, “Căm hận và nhung nhớ mới có thể giúp nàng sống sót.”

“Sớm muộn gì nàng ấy cũng sẽ biết.”

“Đúng vậy, nhưng vẫn có ngươi ở đó.”

“Ta…”

“Còn có một món đồ nữa, ngươi hãy mang đến cho mẹ con họ.” Hắn bảo nam nhân tới gần, nói nhỏ vào tai.

Nam nhân chợt lùi về sau, luôn miệng nói: “Không được, tuyệt đối không được!”

“Ta vẫn sẽ ở bên cạnh mẹ con họ.” Hắn cười, nhắm mắt lại, “Ban nãy ta đã lừa lão hòa thượng, không phải là ta không tin ông ấy mà là ta chỉ muốn trong quãng thời gian còn lại có thể biết thế nào là được đối xử dịu dàng, sự xuất hiện của nàng ấy chỉ là đúng lúc mà thôi. Ta rất ích kỷ, vì vậy đừng nhớ ta.”

Không đợi nam nhân nói thêm, một ngọn lửa phừng cháy trên người hắn, ánh lửa đỏ chiếu sáng gian phòng, cắn nuốt khuôn mặt an tĩnh của hắn…

Nếu thời gian có thể quay lại, có thể làm lại tất cả, hắn vẫn không muốn làm hòa thượng, hắn vẫn muốn làm hàng xóm với một con yêu quái ở nghĩa địa, uống rượu cùng nàng, trả thù kẻ ác giúp nàng, cưới nàng làm vợ, sinh con dưỡng cái…