Đô Thị Quỷ Ký

Chương 9: 9





“Hắn chết rồi sao?” Tử Dung lên tiếng trước.

Lữ Thuần Dương sờ vào tay nam nhân này thấy vẫn còn hơi ấm thì khẩn trương: “Người hắn còn hơi ấm, có lẽ chỉ vừa mới ngừng thở tức thì.”
“Muốn cứu người vừa mới ngừng thở thì phải hà hơi thổi ngạt, anh thổi hơi cho hắn đi.” Ngọc Ngân gợi ý.

“Tôi…” Lữ Thuần Dương cúi xuống nhìn gã nam nhân, tuy mặt mũi tên này cũng dễ coi, cứu người cũng là việc quan trọng, nhưng hắn không biết gã này là ai, có mắc bệnh gì lây lan qua đường miệng không, hơn nữa nếu thực sự làm việc chạm môi với một gã nam nhân khác trước mặt hai cô gái xinh đẹp, đời này hắn tuyệt đối không ngóc đầu lên nổi nữa, trong lòng vô cùng bĩ cực.

“Ngươi còn chờ gì nữa?” Tử Dung giục giã, không hề biết tới nỗi khổ tâm trong lòng hắn.

Đang lúc rối như tơ vò, hắn chợt nhớ tới quả trứng của Hoa Tử Ngọc, lão già kia đã nói quả trứng này là thứ thuốc quý trong trời đất, quý hơn nhung hươu mười năm, bổ hơn nhân sâm trăm năm, rồi cái gì mà còn cất giữ trên hai mươi năm có thể cải tử hồi sinh cho một người.

Bây giờ tuy chỉ mới cách chưa tới hai ngày nhưng chắc ít nhiều cũng có tác dụng.

Nghĩ thế, hắn vội vàng lấy quả trứng ra, đập vào thành cỗ quan, cạy miệng gã nam nhân, đổ hết cả lòng đỏ lòng trắng vào.

Chợt nhớ tới mỗi khi muốn ép người khác mở miệng, người ta thường bịt mũi lại, nên hắn vội vàng đưa tay bóp mũi gã nam nhân kia, với hy vọng cho gã này nuốt xuống.

“Hắn đã ngưng thở rồi, anh đâu cần phải bóp mũi cho hắn mở miệng nữa.” Ngọc Ngân nhắc nhở.

Phải, hắn đúng là ngớ ngẩn, trong lúc vội vàng thì đầu óc lại chạy đi đâu mất, quả thật để hại một người thì rất dễ, nhưng để cứu một người lại khó hơn rất nhiều.

Hắn vừa nghĩ lan man, vừa không biết làm thế nào cho gã này nuốt xuống.

“Tôi nghe nói, để cứu người, ngoài việc thổi hơi ra, còn có thể đấm mạnh vài cái vào vùng ngực trước tim, anh thử xem có phải không.” Ngọc Ngân lại lên tiếng, dường như cô rất có kinh nghiệm về việc này.

“Cho dù không phải thì cũng đâu mất mát gì thêm nữa.” Lữ Thuần Dương lẩm bẩm rồi làm theo lời Ngọc Ngân nói, vung tay đấm mạnh vào vùng ngực trước tim gã nam nhân.

Không ngờ, cách này lại thực sự có hiệu quả, gã nam nhân đột ngột thở hắt ra một cái, miệng thoát ra tiếng rên rĩ, người run lên nhè nhẹ.

“Nuốt thứ trong miệng ngươi xuống, nó sẽ cứu mạng ngươi.” Lữ Thuần Dương chậm rãi, nói to từng tiếng cho kẻ đối diện nghe rõ.

Kẻ kia hẳn là nghe được tiếng của hắn nên cố gắng nuốt thứ trong miệng xuống.

Lữ Thuần Dương thấy cổ của nam nhân gồ lên, lòng trứng hiển nhiên là đang di chuyển qua đây rồi nhanh chóng trôi xuống bụng.

Rất nhanh sau đó, cả cơ thể nam nhân trở nên có sinh khí, da mặt hồng hào trở lại, môi đã bớt tái hơn, lồng ngực nhấp nhô lên xuống đều đặn.


Lát sau nam nhân từ từ mở mắt, ánh nhìn lờ mờ dần trở nên tinh anh, nam nhân cất tiếng: “Ba vị đã cứu tôi sao?”
“Chúng tôi đã cố gắng hết sức…” Lữ Thuần Dương dừng lại một chút cho thêm phần trọng lượng rồi nói tiếp: “…mới cứu được anh đấy.

Sao anh lại bị đám người kia chôn xuống đất vậy?”
Nam nhân thở dài một hơi: “Chuyện dài dòng lắm!”
“Vậy kể vắn tắt thôi.” Lữ Thuần Dương nói.

“Tôi tên là Ngũ Đại Tam, làm nghề xem tướng cho người khác, ngày hôm nay…” Ngũ Đại Tam chậm rãi, bắt đầu kể câu chuyện của mình:
Hôm nay là một ngày mưa dầm dề, từ sáng mặt trời chưa kịp ló dạng thì mưa đã đổ xuống, cứ tưởng đâu đến trưa là ngớt, không ngờ mưa luôn đến tận chiều.

Đại Tam chuẩn bị dọn hàng để về thì thấy một nam nhân lấy hai tay che mưa chạy vội qua, tuy mưa lúc này đã nhỏ hạt, nhưng hai bàn tay thì làm sao che nổi trời, cả người hắn đều ướt, tuy không đến nỗi sũng nước nhưng cả người vẫn gọi là ướt đẫm.

Nam nhân đã chạy quá cái bàn nhỏ được bày ra để tiếp khách của Đại Tam một đoạn thì đột ngột khựng lại như vừa nhớ ra điều gì đó, việc dừng lại này có lẽ không nằm trong dự tính, đường phố lại đang trơn trượt khiến hắn suýt nữa thì trợt ngã.

Sau khi loạng choạng, hắn lấy lại thăng bằng, quay người lại tiến đến chỗ Đại Tam đang đứng, cất tiếng hỏi: “Ông là người xem tướng à?”
Đại Tam gật đầu, hắn lại hỏi tiếp một câu nữa: “Ông có biết con ruồi có ý nghĩa tượng trưng cho điều gì không?”
Nghe hắn hỏi vậy, Đại Tam nghĩ không lẽ người đối diện là kẻ chơi bài bạc, lại nằm mơ thấy ruồi nên muốn hỏi để tìm cơ hội đổi vận, nhưng người làm nghề liên quan đến huyền học như Đại Tam đều biết một nguyên tắc, không trả lời thẳng vào vấn đề quá sớm khi chưa rõ hoàn cảnh, thế nên Đại Tam hỏi lại hắn: “Con ruồi trông như thế nào?”
Hắn ngẫm nghĩ một thoáng rồi đáp: “Màu đen, có cánh…”
Có khi tên này dầm mưa lâu quá nên não của hắn bị mốc không ít, đợi thêm chút nữa, chắc hắn miêu tả thêm con ruồi có ba đôi chân nữa, Đại Tam vội ngắt lời hắn: “Nghĩa là con ruồi trông như loại bình thường hay bay ngoài đường?”
“Phải, còn có hay bay trong nhà nữa.” Hắn bổ sung thêm.

Không muốn tiếp tục tranh luận địa điểm ưa thích hoạt động của ruồi, Đại Tam hỏi câu khác: “Số lượng ruồi có nhiều không?”
Hắn lắc đầu: “Không, chỉ khoảng một hai con gì đó.”
“Cậu trông thấy con ruồi trong hoàn cảnh như thế nào?”
“Mấy bữa nay, tôi đang ngồi làm việc thì con ruồi bay tới, nó bay qua bay lại một lúc lâu mà không chịu đi, tôi phải xua mãi nó mới chịu bay ra chỗ khác, rồi hôm sau lại có thêm con khác bay tới, nó vẫn bay qua bay lại chỗ tôi ngồi…”
“Thế thì bất thường ở chỗ nào? Một hai con ruồi bay lung tung là việc bình thường mà.”
“Nhưng vào ban đêm, lúc tôi ngủ, cũng có ruồi bay tới chỗ tôi nằm.”
“Có phải cậu mấy bữa nay không tắm phải không?”
“Không phải, tôi vẫn tắm hằng ngày mà.”
“Thôi được rồi, vấn đề của cậu là có ruồi bay trong nhà cậu, nên hôm nay cậu chạy ngang đây, tình cờ trông thấy tôi nên dừng lại hỏi xem, ruồi bay trong nhà thì có ý nghĩa gì phải không?”
Nam nhân kia gật đầu, khẳng định: “Đúng là như vậy.”
“Ngoài ra không còn chuyện gì khác?”
“Phải, không còn chuyện gì khác, à mà thực ra…” Nam nhân ngập ngừng, có vẻ nhớ ra thêm điều gì.

“Thực ra…?”
“Thực ra là còn một chuyện nữa, bà tôi tự nhiên hỏi rằng dạo này trong nhà có phải có thêm người nào khác không, mà ngoài tôi với bà ra thì làm gì còn ai khác nữa chứ.”

Đại Tam suýt nữa thì buông lời mắng nhiếc nam nhân, may mà kịp nuốt lại vào bụng, trời hỡi, điều bất thường như thế mà hắn chỉ là vô tình nghĩ ra, xem không bằng việc mấy con ruồi bay qua bay lại nữa.

Lúc này mưa đã tạnh, Đại Tam nén giận, bảo nam nhân ngồi xuống kể đầu đuôi sự việc.

Nam nhân kể rằng hắn tên là Tiểu Phúc, hắn và bà nội sống chung với nhau, bà hắn do bị bệnh lâu năm khiến đôi mắt nay đã không còn nhìn được nữa, còn hắn làm nghề đan lồng đèn tại nhà, vừa để kiếm tiền, vừa tiện chăm sóc cho bà.

Nhà hắn có cấu trúc đơn giản, chỉ là hai căn phòng nhỏ riêng biệt, một căn cho bà ở, một căn cho hắn ở, cũng đồng thời là nơi làm việc.

Hằng ngày hắn ngồi đan khung lồng đèn, đan xong thì lấy giấy dán lên, rồi trang điểm tô vẽ một ít để ra được lồng đèn thành phẩm.

Xong được một số kha khá thì mang đi giao cho cửa tiệm.

Cách đây vài ngày, lúc hắn nấu xong cơm tối, dọn cơm ra cho cả hai bà cháu cùng ăn thì bà hắn hỏi trong nhà có phải có thêm ai khác không.

Hắn đáp rằng trong nhà ngoài hai bà cháu ra thì không có ai khác, rồi cả hai ăn cơm, nói qua chuyện khác, không nói chuyện đó nữa.

Qua bữa sau, cũng lúc đang ăn cơm tối, bà hắn lại hỏi có chắc là không có ai khác trong nhà không.

Hắn ngạc nhiên, chuyện tối qua hắn vốn không để ý, đã quên khuấy đi rồi, không ngờ hôm nay bà nội nhắc lại.

Hắn hỏi vì sao bà lại nói như vậy, bà đáp hằng ngày bà lần mò đi lại trong nhà, cảm giác cứ như có ai đó đi bên cạnh, chiều qua bà vấp chân ở ngưỡng cửa khi bước ra sân, có người đỡ lấy cánh tay bà, mà lúc ấy thì Tiểu Phúc đang đi giao lồng đèn cho người ta, đâu có ở nhà, hơn nữa bà lên tiếng thì không có ai đáp lại, nên lúc ăn cơm tối qua, bà hỏi hắn về chuyện đó.

Đến tối qua, lúc bà nằm ngủ, lơ mơ cảm giác như có người nằm bên cạnh, nhưng mở mắt ra, quay qua nhìn thì không thấy ai.

Qua tới chiều nay, lúc ngồi một mình ở bàn, bà giả vờ thử đẩy một cái tách trà ra khỏi mép bàn cho nó rơi xuống, nhưng mãi mà không nghe thấy tiếng rơi vỡ, một lúc sau lần mò trên bàn thì thấy cái tách đã lại nằm ngay ngắn sát mép bàn, vì thế đến bữa cơm tối nay, bà phải hỏi lại đứa cháu của mình lần nữa.

Tiểu Phúc nghe bà kể mà run rẩy sợ hãi, đưa mắt liếc nhìn một vòng quanh nhà, sau lưng nổi gai ốc, cảm giác như có người đứng sau lưng thổi hơi vào gáy hắn.

Bà hắn đôi mắt không nhìn được, hiện tại nếu có nhìn thấy thứ gì không sạch sẽ thì chỉ có mỗi mình hắn là nhìn thấy được, điều này càng khiến hắn thấy sợ hãi thêm.

Nghe xong câu chuyện của Tiểu Phúc kể, Ngũ Đại Tam chăm chú nhìn hắn một lát, bỗng nhiên như nhận ra điều gì đó, Đại Tam buông một tiếng thở dài, bảo hắn dẫn mình về nhà hắn xem sao, tuy Ngũ Đại Tam không phải là đạo sĩ, nhưng nếu có thể giúp được gì thì sẽ làm hết mình.

Hai người cất bước, một trước một sau, lầm lũi đi về nhà Tiểu Phúc.

Đến nơi, Ngũ Đại Tam đưa tay đẩy cánh cửa gỗ, bước vào trong sân, khuôn viên căn nhà không rộng, chỉ là một cái sân lát đá, ở một góc có vài cây bụi, dường như cũng không được chăm sóc, ở một góc khác chất đầy những loại dây lạt, sợi trúc, giấy dó, hiển nhiên là những thứ cần cho công việc đan lồng đèn.


Bên hông là một căn phòng cửa khép hờ, tối om, chắc là nơi làm việc của Tiểu Phúc.

Trong căn phòng nhỏ đối diện cổng, có một bà lão đang lúi húi, tìm cách thắp sáng ngọn đèn dầu, nghe tiếng người, bà cất tiếng hỏi: “Ai đó? Là Tiểu Phúc hả con?”
Ngũ Đại Tam bước tới, bịa đại ra một lý do: “Cụ à, cháu là Đại Tam, nghe nói ở đây có làm lồng đèn nên muốn mua một cái, cụ ở đây chỉ có một mình ạ?”
Bà lão xua tay: “Còn có cháu nội của lão nữa, nó là người làm lồng đèn, nhưng giờ nó đi giao lồng đèn cho người ta, chắc cũng sắp về rồi.”
Rồi bà lão chỉ tay về một phía: “Phòng chứa lồng đèn ở bên cạnh, cậu qua đó xem rồi lựa đi.”
Đại Tam đành giả vờ đi qua căn phòng làm việc của Tiểu Phúc bên hông, trời cũng đã tối, trong phòng không có đèn đuốc gì, tối om.

Hắn đưa tay đẩy nhẹ cánh cửa, bỗng giật mình hẫng người một cái, phía sau cửa tự dưng xuất hiện một bóng người, nhưng chớp mắt một cái, bóng người liền biến mất.

Đợi một lúc cho mắt quen với bóng tối, hắn nhìn rõ hơn, căn phòng này chứa đầy đồ đạc linh tinh và mấy cái lồng đèn đang làm dở, tuy lộn xộn nhưng không có góc khuất nào để nấp.

Bóng người vừa nãy chắc hẳn không thể nấp vào chỗ nào mà không gây ra xáo trộn, như vậy khả năng câu chuyện mà Tiểu Phúc kể là có phần chính xác, mà như thế lại càng hay, hắn có lý do rõ ràng để nói chuyện.

Đại Tam quay trở lại gặp bà lão, giả vờ hốt hoảng: “Cụ ơi, cụ bảo nhà chỉ có mình cụ thôi, cụ có chắc không ạ?’
Bà lão cũng tỏ ra ngạc nhiên: “Lão chắc chứ, nhà chỉ có mình lão và đứa cháu trai, đâu còn…” Đang nói giữa chừng thì bà lão khựng lại, nét mặt tỏ ra chút hoảng hốt.

Đại Tam biết đây là thời cơ thích hợp để hỏi chuyện nên chủ động tiếp lời: “Sao vừa nãy, cháu vào bên cạnh để xem lồng đèn, lại thấy có bóng người trong đó, lạ cái là bóng người đó hiện ra một chốc rồi biến mất ngay, cháu cứ tưởng mình hoa mắt.”
Bà lão há hốc miệng: “Cậu thực sự trông thấy có bóng người ư?” Rồi bà thảng thốt, kể lại câu chuyện trong hai ngày qua cho Đại Tam nghe, nội dung cũng tương tự như Tiểu Phúc đã kể.

Đại Tam suy nghĩ một chốc rồi hỏi: “Cụ ạ, người bình thường sẽ không nằm trên giường với cụ khi đang ngủ đâu, trước đây cụ có con cháu nào hay ngủ chung với cụ không?”
Nghe tới đây, cụ già gật đầu: “Có, trước đây lão có đứa cháu gái hay ngủ chung với lão, nó với Tiểu Phúc là chị em họ, nhưng nó đi làm ở xa, đã mấy năm nay không về nhà, hôm nay trước khi Tiểu Phúc đi giao lồng đèn, nó bàn với lão tới dịch trạm Phụng Lai gửi bức thư cho chị nó xem thế nào, có lẽ do đó mà về trễ.”
Quán trọ Phụng Lai sau một vài năm ăn nên làm ra, phát triển quy mô lớn mạnh, mở ra thêm cả dịch trạm để vận chuyển hành khách, hàng hóa, thư từ, trở thành trung tâm liên lạc của cả thị trấn Hoa Bắc.

Đại Tam nhìn trời đã tối hẳn, hỏi: “Cụ đã ăn cơm tối chưa?”
Bà cụ lắc đầu: “Hằng ngày đều là do Tiểu Phúc lo việc cơm nước, mắt lão không nhìn rõ, không làm được mấy việc.”
Đại Tam nhanh chóng vào bếp, dọn mấy món ra bàn cho bà lão rồi nói: “Cụ ạ, trời đã tối rồi, cụ chỉ có một mình, hay để cháu chạy qua dịch trạm Phụng Lai hỏi thăm xem sao, còn cụ ở nhà cứ dùng cơm trước, chút nữa Tiểu Phúc về sẽ ăn sau cũng được.”
Bà lão mừng rỡ: “Vậy thì nhờ cậu!”
Đại Tam bước ra khỏi cổng, nhìn quanh không còn thấy Tiểu Phúc đâu nữa.

Vừa rồi, lúc còn ở trên phố, hắn quan sát Tiểu Phúc chợt nhận ra đấy không phải là người sống, vì một lẽ đơn giản, hắn dường như lờ mờ nhìn xuyên qua được người của Tiểu Phúc.

Đại Tam sau khi rời nhà của Tiểu Phúc thì nhắm thẳng hướng dịch trạm Phụng Lai mà chạy tới, nhưng nửa đường đã phải dừng lại thở hồng hộc.

Đại Tam vốn không phải là người thiên về thể lực.

Hắn kiếm sống chỉ bằng ba ngón nghề, giống như cái tên của hắn, là xem tướng, xem phong thủy và một ít y thuật về châm cứu.

Khả năng của hắn giỏi thì không giỏi, nhưng tệ thì cũng không tệ, đủ cho hắn kiếm sống qua ngày.

Tuy rằng phải lăn lộn trong chốn giang hồ, lấy miệng lưỡi làm kiếm tấn công, lấy bộ mặt làm khiên phòng ngự, nhưng bụng dạ của hắn chung quy là tốt, không bị cát bụi giang hồ làm mờ đục con người.


Vì thế, mặc dù là chuyện của người dưng nước lã, cũng khiến hắn vất vả chạy một đường.

Nhưng lực bất tòng tâm, vất vả đến nửa đường đã chạy không nổi nữa, đang cắm mặt xuống đất thở dốc thì may sao có chiếc xe ngựa đi qua.

Trong lòng mừng rỡ như đang buồn ngủ lại gặp chiếu manh, hắn gọi người đánh xe dừng lại, nào ngờ khi nghe nơi mà hắn muốn đến thì người đánh xe đã lắc đầu rối rít: “Nơi đó giờ không đến được nữa.”
Đại Tam vừa cố lấy hơi, vừa hỏi cho rõ: “Vì sao lại không đến được nữa?”
Người đánh xe lè lưỡi: “Chuyện lớn như vậy mà người không biết sao, cách đây mấy ngày, toàn bộ người ở quán trọ và dịch trạm Phụng Lai đột nhiên biến mất hết chỉ trong một đêm, đến con gà con chó cũng không còn, giờ ở đó như cái nhà hoang vậy, không ai dám đặt chân đến đó nữa.”
Nói xong, người đánh xe tính thúc ngựa chạy tiếp, nhưng Đại Tam biết bây giờ hắn không còn sức để lết bộ nữa, nên vội vàng năn nỉ, bảo sẽ trả thêm tiền, hơn nữa chỉ cần chạy tới gần đó thả hắn xuống là được.

Phân vân một lúc, người đánh xe mới đồng ý chở hắn đi.

Gần đến nơi, người đánh xe thả hắn xuống, chỉ về phía trước bảo: “Phía trước là Phụng Lai đó, đi bộ thêm một chút nữa là tới rồi.” Đoạn quay xe chạy mất.

Đại Tam đi một chốc đã tới quán trọ Phụng Lai, quả nhiên xung quanh hoang vắng, không một bóng người, bên trong không có lấy một ngọn đèn, cũng không có nổi một tiếng động, mọi thứ im lìm như một cái nhà hoang.

Hắn không tưởng tượng nổi, chỉ vài ngày trước, đây còn là nơi nhộn nhịp người qua kẻ lại.

Đại Tam bước đến gần, bốn cánh cửa tiền môn cái mở cái đóng, cái chỉ khép hờ như muốn tăng thêm phần rùng rợn.

Hắn lần từng bước đến gần, bước chân rất khẽ, không muốn làm kinh động bất cứ thứ gì bên trong.

Tới nơi, hắn chậm rãi thò đầu qua khe cửa, đưa mắt nhìn vào bên trong.

Bên trong tối đen như mực, có một thứ mùi kỳ lạ xộc vào mũi hắn, nữa giống mùi ẩm mốc, nửa giống mùi thối rữa.

Hắn thấy gai gai trong lòng, nghĩ thầm bản thân mình không phải là đạo sĩ, cũng không phải là võ sĩ, nơi quỷ dị như thế này, mười phần thì chắc có chưa tới nổi một phần là đường sống, tốt nhất là rút lui cho nhanh.

Nghĩ thế, hắn dợm cất bước thì nghe một tiếng nói âm u, lanh lảnh từ trong vọng ra: “Đã tới đây rồi sao còn không vào?”
Đang hoang mang vì bất chợt nghe tiếng nói âm lãnh phát ra, thì Đại Tam đã cảm thấy một cảm giác nhẹ bẫng, cả người hắn từ từ bốc lên cao.

Nhưng cái cách mà hắn bay lên không phải là đột ngột ào một cái, mà là chậm rãi lơ lửng, bồng bềnh.

Chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra thì hắn nghe một tiếng động.

“Phịch”
Tiếng động vang lên sau lưng Đại Tam, hắn quay đầu lại nhìn, thấy một hắn khác đang ngả ngửa ra trên nền đất.

Hắn kinh ngạc nhìn hai cánh tay lờ mờ, đầu óc như có một tia sét giáng xuống, thì ra hồn phách của hắn đang bị hút ra khỏi cơ thể.